CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NHÀ THƠ - NHẠC SỸ MAI XUÂN CHỨC
anh bia facebook tinh yeu dep buon anh bia facebook tinh yeu dep buon anh bia facebook tinh yeu dep buon anh bia facebook tinh yeu dep buon
1 2 3 4
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

GIẾNG NƯỚC LANG TÔI



GIẾNG NƯỚC LÀNG TÔI *


                    Có lẽ, là người dân Việt dù ở đâu hay đi đâu, ở bất cứ phương trời nào, ai cũng mang theo trong ký ức của mình những hình ảnh thân thương về quá khứ với những cổng làng, cây đa, giếng nước. Nghĩ đến cổng làng, giếng làng là thấy hiện lên nỗi nhớ da diết quê hương, cha mẹ, gia đình.... Từ làng, ta ra với đời, uống nguồn nước giếng mát trong; và giếng làng vẫn trầm mặc, lặng lẽ tiễn ta đi rồi lại đón ta về.
                   Hôm nay, tình cờ đọc được bài thơ “Giếng làng” của Mai Văn Hoan, lòng tôi bỗng xôn xao kỷ niệm, tác giả đã đưa tôi và bạn trở về với làng quê yêu dấu.
                                                Về quê tìm lại giếng làng
                                    Lối quen mà cứ ngỡ ngàng bước chân
                                                Bao phen trời đất xoay vần
                                    Làng xưa xóm cũ mấy lần đổi thay
                                                Nép sau vườn dưới vòm cây
                                    Lòng băn khoăn có phải đây giếng làng?
                                                Hỡi người duyên số dở dang
                                    Nhớ chăng đêm ấy.... trăng vàng chung soi
                                                Lỡ tay thương chiếc gàu rơi
                                    Làm xao lòng giếng... một thời vụng yêu
                                                Giếng làng thuở ấy trong veo
                                    Chia cho thiên hạ: giàu nghèo, hèn sang
                                                Gái làng tắm nước giếng làng
                                    Tóc thêm óng mượt, da càng mịn thơm!
                                                Bây giờ nước có đầy hơn
                                    Chạnh buồn tên giếng không còn từ lâu
                                                Bâng khuâng cầm lại dây gàu
                                    Buông tay nhè nhẹ... sợ đau giếng làng.

                  Chẳng phải ngẫu nhiên mà hình ảnh cái giếng làng cứ đi về trong nỗi nhớ của những người xa quê. Cái giếng đã có mặt trong đời sống của người Việt từ lâu lắm rồi: Ít nhất thì trong chuyện cổ tích, nó đã hiện hữu để cô Tấm nuôi con cá bống còn sót lại như nuôi giữ cái huyền thoại, rồi khi Trọng Thủy gieo mình tự vẫn để giải cái oan tình cho Mỵ Châu; và qua những câu thơ phồn thực mang đầy ám ảnh của Xuân Hương nữ sĩ... đến tận hôm nay.
                  Ở làng tôi cũng có một cái giếng như bao làng quê khác. Không ai biết tường tận  giếng nước ấy đã có tự bao giờ; Chỉ biết rằng nghe các cụ cao tuổi trong làng nhiều thế hệ kể lại thì các cụ sinh ra và lớn lên, đã thấy cái giếng ấy rồi. Cứ thế, đời này kế tiếp đời khác cho đến tận bây giờ. Không chỉ là địa điểm cung cấp nước ăn cho cả làng, mà còn có nhiều kỷ niệm với bao người; là niềm tự hào của nhiều thế hệ.

                     Nằm giữa khu trung tâm văn hoá của làng, ngay bên cạnh ngôi đình, Nhà văn hóa – Khu thể thao, giếng nước như một chiếc gương lớn với diện tích mặt lên đến trên 800m2, đáy lòng chảo. Rốn giếng sâu, nước gần ngập một cây tre. Xung quanh được xây bao theo hình tròn từ mép đáy lên, đến nay nhiều chỗ sự liên kết giữa các hàng gạch vẫn còn tốt. Gần đây, nhân dân trong làng và chi hội Người cao tuổi đã góp tiền xây thêm lan can phần vượt trên bờ và trồng con tiện. Xung quanh bờ được đổ bê tông. Tại vị trí đẹp nhất gần đường đi, trong dịp kỷ niệm 1000 Thăng Long – Hà Nội, những người con của làng sống xa quê còn ủng hộ xây một bể cảnh với núi non bộ lớn, chiều cao tới trên 3 mét!.

                      Nhờ có mạch nước ngầm nên nước giếng rất trong, trên mặt còn thả “bèo ong”. Dưới giếng có rất nhiều cá, nhưng rất ít khi đánh bắt. Thời bao cấp, có lần người ta bắt được con cá mè “ta” nặng tới trên một yến.
                      Tuổi chúng tôi lớn lên, trưởng thành đều ăn uống nước giếng làng. Nhiều phó tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên, anh hùng thời ấy đều nhờ ăn nước giếng nơi đây mà thành đạt!. Những cô thôn nữ với mái tóc dài óng mượt, gọn ghẽ, căng tròn trong bộ quần áo bà ba, chiều chiều ra giếng gánh nước, soi khuôn hình của mình xuống mặt nước thật là gợi cảm, nên thơ. Đôi nồi đất nung ngồi gọn ghẽ trong chiếc quang làm bằng dây song hay cật tre, rồi đến đôi thùng tôn được treo trên móc xích vào hai đầu đòn gánh “bằng” nhún nhẩy trên đường làng... như một bức tranh thuỷ mặc sống động, độc đáo hiếm có...  Hình ảnh giếng nước làng tôi đã có mặt trong những thước phim tài liệu do mấy hãng nước ngoài về quay cùng với những phụ nữ “ba đảm đang” thời chống Mỹ.

                      Lại nhớ, tháng 2 năm 1950, bom Pháp ném xuống làng đã làm sạt lở một góc bờ giếng. Ngay mấy ngày sau làng đã xây lại. Người ta truyền nhau rằng giếng làng rất “thiêng”. Thập kỷ 50 của thế kỷ trước, làng có một ông tên là Hành, vợ mấy lần sinh toàn được con gái? Cũng vừa nhân lúc làng cần thay nước ở giếng. Nhưng do giếng sâu, lại có mạch nước ngầm, nên chưa có phương án thực hiện. Được hội đồng bô lão của làng đồng ý, ông Hành đã đặt mấy “cấp gầu sòng” từ trên bờ xuống tới đáy, với hàng chục chiếc gầu tát suốt ngày đêm, nước đã cạn, giếng trở lại sạch sẽ. Không biết có phải vì việc thiện và tâm linh ấy không mà sau đó vợ ông Hành sinh hai người con trai liền!

                      Theo cụ Pha năm nay 91 tuổi kể lại: Vợ chồng cụ “nên duyên có phận” cũng khởi đầu từ chuyện gánh nước giếng. Hồi ấy là năm 1948, cô thôn nữ - bây giờ là cụ bà -  đi gánh nước, do kỹ thuật túm cổ quang và hướng đứng múc nước chưa thành thạo, một bên nồi đất nung rời khỏi “trôn” quang nổi trên mặt nước, trôi đi. Chiếc nồi bên kia đầu đòn gánh từ từ chìm xuống. Mất thăng bằng, cô gái té nhào sau khi hét lên một tiếng. Cũng may có chàng thanh niên lúc đó mới 18 tuổi – bây giờ là cụ ông -  đi qua vội vàng lao xuống... Người thanh niên sau đó đi bộ đội, lại được tham gia chiến dịch Điện Biên, rồi trở lại quê nhà... Cô gái vẫn chờ... Bây giờ hai cụ vẫn khỏe, con cháu của hai cụ người ở quê, người công tác thoát ly trên thành phố, đều thành đạt trong học tập và cuộc sống....


                      Nhiều năm nay, tuy không còn ai ăn nước ở giếng làng nữa nhờ có 98% số gia đình trong làng có giếng khoan đã qua lọc để dùng trong sinh hoạt và 100% số hộ có bể hứng nước mưa - có bể chứa được trên chục khối - dùng cho việc ăn uống. Tuy vậy, người dân trong làng vẫn cùng nhau giữ gìn giếng làng như một vật báu thiêng liêng, một biểu tượng văn hoá tâm linh không thể mất.


Mời xem tiếp các chuyên mục: Trang chủ, âm nhạc, gia đình, văn thơ...



Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012

ĐỖ MÀ LO



                                                       ĐỖ MÀ LO ?


                   Vào mạng, biết được cô cháu ruột gọi bằng chú đỗ vào trường đại học sư phạm I, tôi hết đỗi vui mừng. Mừng vì cả phái nhà tôi thuộc chi họ Nguyễn Văn – thế hệ thứ 16 – đây là trường hợp đầu tiên đỗ đại học, mà là đại học sư phạm hẳn hoi. Thế là cháu đã nối tiếp truyền thống của làng khoa bảng. Từ thế kỷ thứ XVIII - XX, phần đông sĩ tử các thế hệ của làng đều theo nghiệp trồng người. Hiện nay cũng có đến 10% dân số của làng làm nghề giáo. Anh trai tôi ở quê chưa tin, vì cháu học bình thường,  lại chẳng “vào lò” ở thành phố ôn tập theo gợi ý của tôi bao giờ, nên bảo cứ chờ giấy báo mới ăn chắc...
                                                                   *
                                                               *       *
                    Dăm bảy mâm cơm thân mật mời những người thân trong gia đình liên hoan tiễn cháu gái tựu trường. Không khí thật vui vẻ đầm ấm. Tiệc tan, anh chị tôi có vẻ trầm ngâm, tư lự. Tôi bảo:
-         Ông bà và hai bác cứ yên tâm, em xin đảm nhận chỗ ăn ở và môi trường sinh hoạt, học tập cho cháu.
-         Cảm ơn chú thím, nhưng....
-         Thế hai bác còn việc gì nữa ạ?
-         .......
     Không ai nói gì. Một lúc sau bố tôi chậm rãi:
-         Bác ấy lo là lo khi cháu ra trường, lấy gì ra mà để chạy việc...
     Tôi động viên:
-         Có gì lớn lắm đâu mà bác đã phải lo sớm thế? Cô út nhà ta học xong thương mại, chẳng phải đã đi làm ngay ở Hà Nội đấy thôi.
-         Chú không biết đâu: ở quê học xong sư phạm, kiếm được chỗ dạy hợp đồng đã khó, còn thi công chức thì....
                       Bố tôi tiếp lời:
-         Con ông Kiên ở xóm Hạ đấy, ba năm là giáo viên giỏi cấp huyện; trước khi thi công chức, có người đến nhà bảo “mấy chục” là xong... Không nghe. Năm vừa rồi lại trượt... Nghe đâu cháu nó ra Hà Nội bán hàng cho một công ty nào đó...
           Anh tôi hăng lên:
-         Nhà bà Tỵ có hai mẹ con. Đứa con gái đã dạy trên Tây Bắc bốn năm trời, bà tính phải đưa bằng được về để còn lo việc gả chồng cho nó. Chỗ ấy thiếu giáo viên hẳn hoi, thế mà cũng phải mất đến “mấy chục?”.
                        Bà chị dâu góp:
-         Phải “mạnh” như nhà ông Tình, thằng Năm học dốt như...? Học sư phạm, năm nào bố cũng phải mang tiền lên trường để xin không lưu ban; chả hiểu thế nào, vừa rồi thi công chức lại được ngay, còn về gần nhà hẳn hoi!
                       Đã từng nghe về hiện trạng sinh viên học xong ra trường xin việc làm khó khăn là có thật, nhưng không phải ai cũng thế; càng không đến nỗi như mọi người nói. Tôi thưa:
-         Dạ! Đấy chỉ là những trường hợp cá biệt.
-         Chú thì lúc nào chẳng ngay thật. Chả thế mà họ bố trí chú làm việc ở viện nghiên cứu. Anh tôi ngắt lời. Chị dâu tôi như chẳng chịu thua:
-         Cô giáo Minh ở trường cấp II mới sướng chứ! Suốt tuần, suốt tháng, chỉ mỗi việc đánh trống vào học, ra chơi, tan lớp mà lương tháng cũng mấy triệu!
             Tôi cứ như lọt vào mê cung trận không có đường ra....
                                                             *
                                                        *       *
Tác giả tham gia cuộc thi kể chuyện 
Tấm gương đạo đức HCM

                   Trên đường lai cô cháu về Hà Nội nhập trường, tôi cứ lan man nghĩ không hiểu chuyện bố mẹ, anh chị tôi nới có phải thật như vậy không? Liệu quê tôi còn giữ được truyền thống nhiều người theo nghề dạy học? Nhưng điều chắc chắn là tôi sẽ đưa vào chương trình nghiên cứu của Viện tôi trong năm tới.

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

NHỮNG NGƯỜI MẸ Ở LÀNG KHOA BẢNG


                        NHỮNG NGƯỜI MẸ

                                                  Ở LÀNG KHOA BẢNG

                                                                                           XC & QS


                 Cụ Nguyễn Duy Tuấn là người làng Khả Lãm, phủ Ứng Thiên; nay là thôn Cao Lãm, xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội). Năm 1670, dưới thời vua Lê Huyền Tông, Cụ thi đỗ Cống cử, được coi là người khai khoa của làng Cao Lãm. Mẹ của Cụ là Mai Thị Biểu, người phụ nữ đảm đang, tài trí.
                Tương truyền, Cụ bà là một người phụ nữ cần kiệm, kính nhường, chăm chỉ cấy cày, dệt vải.... Cụ thường dệt the, lụa rồi mang đi khắp nơi để bán. Trong một lần mang lụa đi bán ở Chương Đức (Chương Mỹ, Hà Nội ngày nay), Cụ tình cờ được chứng kiến lễ “vinh quy bái Tổ” của một quan trạng. Vị quan ngồi trên kiệu tám đòn, xung quanh kẻ vác lọng, người che tàn, trống chiêng vang rộn, kẻ đón người đưa tấp nập. Các hương lý, hào mục khắp vùng đều sắp lễ vật đứng hai bên đường để tung hô bái lạy. Vị quan trạng còn rất trẻ, vận mũ áo vua ban nom thật oai vệ. Cụ nghĩ: “Gía như con trai mình được như thế!”. Điều mong ước ấy nung nấu trong lòng người mẹ. Sáng hôm sau, Cụ sắm lễ vật đến gặp quan trạng, hỏi làm thế nào mà ngài được như thế?
                 Quan trạng trả lời:
            -  Học là được.
                 Khi trở về, Cụ sắm sửa khăn gói, rồi đưa con đi mấy ngày đường, tìm đến thầy dạy nổi tiếng nhất vùng để xin cho con học.
                 Những ngày đầu, cậu Tuấn còn chểnh mảng học hành, nhớ nhà, nhớ mẹ nên thường xuyên hay bỏ học trốn về nhà. Nhiều lần khuyên nhủ con nhưng không thành. Một hôm, Cụ gọi con đến bên khung cửi, rồi hỏi:
            - Mẹ hỏi con, những đường tơ mẹ đang mắc trên khung cứi này đã  phải là tấm lụa chưa?
                Cậu Tuấn khoanh tay lễ phép thưa: “Dạ thưa mẹ, chưa phải là tấm lụa ạ!”
            -  Đúng là chưa phải, bởi mẹ còn phải vất vả đêm ngày để dệt từng sợi ngang dọc vào với nhau, vuốt ve, sang sửa, chăm chút từng nhát thoi đưa mới thành tấm lụa để bán đi, nuôi con ăn học. Việc học của con cũng giống như việc dệt lụa của mẹ đây, phải biết kiên trì học từng chữ, từng câu, nắn nót tay bút, miệt mài đêm ngày, học thầy, học bạn thì mới thành người tài giỏi. Còn cứ học hành phất phơ, nay học, mai bỏ, thì cũng không khác gì mẹ cầm kéo cắt đứt từng sợi tơ trên khung cửi như thế này....
                Nói đoạn, Cụ bèn cầm kéo cắt ngang tất cả những sợi tơ đang dệt dở dang trên khung cửi. Người con trai hốt hoảng chưa kịp ngăn mẹ thì dàn sợi đã đứt ngổn ngang. Cậu ân hận quỳ xuống bên mẹ:
           - Thưa mẹ! Con đã biết lỗi của con rồi. Con hứa với mẹ, từ nay con sẽ chăm chỉ học hành để mẹ được an lòng.
                Ngày hôm sau, trước khi con trai lên đường, bà lên chợ mua mấy chục vuông lụa đào, về khâu thành một chếc võng rồi bảo con:
           -  Mẹ khâu sẵn chiếc võng này để chờ khi nào con chí toại danh thành, vinh quy bải Tổ trở về!
Rồi bà bọc kỹ tấm võng, gác lên mái nhà để ngày ngày nhìn thấy mà cố gắng làm lụng nuôi con ăn học. Cảm động trước tấm lòng của mẹ, cậu con trai càng ân hận vì đã để mẹ phải buồn phiền. Cậu ra sức dùi mài kinh sử. Khi triều đình mở khoa thi, Nguyễn Duy Tuấn đã đỗ Trung khoa, sau đó được cử giữ chức Tri phủ Duy Tiên, đem vẻ vang về cho gia đình và quê hương.
Con trai của Cụ Nguyễn Duy Tuấn là Nguyễn Duy Đôn được bà nội dạy dỗ từ nhỏ. Năm 18 tuổi, cậu đỗ Cử nhân. Đến kỳ thi Hội năm Nhâm Thìn (1712), dưới triều vua Lê Dụ Tông, Nguyễn Duy Đôn đỗ Đình nguyên Hoàng giáp Tiến sĩ. Cụ từng giữ chức Hàn lâm viện thừa chí, làm quan đến Tả thị lang Bộ binh, Tế tửu Quốc Tử Giám. Cụ được giao trọng trách soạn thảo văn bia Tiến sĩ khoa Đinh Mùi dựng ở Quốc Tử Giám Hà Nội. Cuối đời, Cụ về trí sĩ ở quê, mở trường dạy học.
Sau khi Cụ mất, triều đình nhà Lê đã phong sắc tặng Cụ chức “Công bộ thượng thư, tước hầu”.
Cụ Nguyễn Duy Đôn thường kể lại câu chuyện về người bà nội của mình cho các con cháu và học trò nghe để làm gương. Cụ bà Nguyễn Thị Khiếu, chị ruột Cụ Nguyễn Duy Đôn cũng là một bà mẹ tài trí, không thua kém gì bà nội của mình.Cụ đã giáo dục , dạy dỗ cả hai người con trai là Mai Danh Tông và Mai Trọng Tương phấn đấu nên người. Hai Cụ Tông (1731) và Tương đã đỗ Tiến sĩ và đều làm quan trong triều đình nhà Lê. Ba cậu cháu Nguyễn Duy Đôn, Mai Danh Tông, Mai Trọng Tương cùng làm quan trong triều, làm nên nên huyền thoại: “Tam Tiến sĩ đồng triều”. Nhà Lê đã sắc phong cho cha mẹ của hai Cụ là Cống cử Mai Hữu Khánh hai bức hoành phi: “Lưỡng tử đăng khoa” và “Nghĩa phương giáo huấn”.
Noi theo tấm gương của các bậc tiền bối, các thế hệ người làng Cao Lãm sau này đều biết lấy câu chuyện dạy con của những người mẹ tài trí ấy làm mẫu mực để dayh dỗ con cháu. Nhờ đó, một làng nhỏ bé với hơn một trăm nóc nhà, dưới triều đại Lê Trung hưng, tính từ sự khai khoa của Cụ Nguyễn Duy Tuấn trở về sau này, tổng cộng đã có 3 Tiến sĩ, 80 vị đỗ Tam trường, cử nhân, hoành từ, hiếu liêm; gần hai chục vị đỗ Tú tài, sinh đồ, hương cống. Tên tuổi của 99 vị khoa bảng đã được người làng khắc vào bia đá lưu giữ đến ngày nay.
Thời hiện đại ngày nay, làng Cao Lãm cũng đã có tới 7 Tiến sĩ, gần ba chục Thạc sĩ và trên hai trăm người là bác sĩ, kỹ sư, cử nhân, nhạc sĩ.... đang ngày đêm trên khắp mọi miền của Tổ Quốc, đóng góp phần mình trong việc làm giàu                
                                                            cho quê hương đất nước.

                                                                                           8 - 2006




Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

Ý nghĩa hình rồng cổ đỏ trên mẫu hoa văn của người dân tộc Lào


altHình rồng cổ đỏ là mẫu hoa văn phổ biến nhất của người dân tộc Lào. Mẫu này được thêu trên mặt sau của váy và kỹ thuật thêu được truyền từ đời này qua đời khác. “Mẫu hoa văn này gắn với truyền thuyết về một người vợ muốn hãm hại em gái chồng.

Một lần đi lấy nước người vợ này đã nhặt được một quả trứng rồng. Rồi hôm sau khi chồng chị và cô em chồng chuẩn bị lên rẫy, chị ta đã luộc hai quả trứng một quả to (trứng rồng) và một quả nhỏ (trứng vịt) cho họ mang theo và dặn rằng em chồng nên ăn quả to và chồng mình ăn quả nhỏ. Sau khi làm nương xong, người em gái thấy anh trai mệt nên cô bảo anh ăn quả trứng to để cô ăn quả nhỏ. Rồi người anh khát nước, anh xuống suốt uống nước và biến thành một con rồng. Người anh nói với cô em buộc một miếng vải đỏ lên cổ anh để cô có thể nhận ra anh khi họ gặp nhau sau mùa lũ

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012

ĐẤT VĂN HIẾN


                                       ĐẤT  VĂN  HIẾN


                             Thủy lưu huyền toại nước lồng mây
                             Khả lãm đầy vơi những tháng ngày
                             Xối xả mưa chiều đan sóng nước
                             Lưa thưa sương sớm phủ đầm cây
                             Duyên trời một mối ân tình nặng
                             Nghĩa nước bốn bên phúc lộc đầy
                             Thuyền thúng khai sinh nơi đắc địa
                             Ngàn năm văn hiến mãi còn đây


                                                                           8- 2000


Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

HỌ MAI CAO LÃM - DÒNG HỌ HIẾU HỌC



                          HỌ MAI CAO LÃM

MỘT DÒNG HỌ HIẾU HỌC


                  Làng Khả Lãm xưa kia, nay là thôn Cao Lãm, xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, chỉ trong thời gian khoảng  hơn hai trăm năm dưới thời Lê Trung hưng, với số dân chỉ vài trăm người, mà làng đã có tới 99 vị học hành đỗ đạt cao và làm quan; trong đó số vị  người họ Mai là 33, chiếm tỷ lệ 33,3% của cả làng, trong đó có 2 tiến sĩ là Mai Danh Tông và Mai Trọng Tương. 15 trên 37 vị đỗ Trung khoa, chiếm trên 40%; đóng góp phần đáng kể làm nên kỳ tích: làng khoa bảng. Hầu hết các vị đều giữ những trọng trách của Chính quyền đương thời như thấp thì có Hương lý, lý hào, chánh hội, rồi cấp trung có Huấn đạo, Tổng giáo, Tham nghị, Tự thừa... đến Thượng thư của triều đình. Nhiều nhất vẫn là chức Tri huyện, Tri phủ. Những con số trên đã chững minh một điều: họ Mai ở thôn Cao Lãm từ xa xưa đã là một dòng họ hiếu học, tham gia việc công - quả là không sai.
                 Ngày xưa, như nhiều gia đình ở làng Khả Lãm: con trai thì học hành, thi cử; phụ nữ thì chăm chỉ chăm tằm dệt lụa, kim chỉ vá may...Các đức lang quân không thể có điều kiện học hành khi không có một hậu phương vững chắc. Phụ nữ họ Mai không nằm ngoài truyền thống tốt đẹp ấy. Những người phụ nữ, còng lưng bên nong tằm, né kén, bên khung cứi hay gồng thuê, gánh mướn, cơm bẹ cháo măng nuôi chồng con theo nghiệp “lều chõng”, chẳng những ở trong làng mà khi xuất giá làm dâu thiên hạ cũng đều là những người mẹ, người vợ đảm đang, nết na, góp phần làm rạng danh nhà chồng. Tiêu biểu là Cụ bà Mai Thị Biểu đã có công nuôi dạy con trai là Cống Cử Nguyễn Duy Tuấn – người được coi là khai khoa của làng - rồi lại nuôi dạy tiếp cháu nội đỗ Hoàng giáp là tiến sĩ Nguyễn Duy Đôn.
               Tiếp đến là Cụ Mai Thị Tân, lấy ông đồ nghèo họ Dương ở làng Vân Đình. Chồng mất, cụ tần tảo dạy con rèn cháu. Con trai của Cụ là Dương Danh Ứng đã đỗ Hương cống. Cháu nội thứ nhất là Dương Khuê, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn 1868, làm đến Thương thư bộ binh. Cháu nội thứ hai là Dương Lâm thi đỗ Giải nguyên, làm tới Thượng thư bộ công, hàm Thái tử Thái bảo. Chút nội là Dương Thiệu Tường, đỗ tiến sĩ năm 1919...
              “Khoa danh kế thế - Thi lễ truyền gia”, các thế hệ người họ Mai Cao Lãm lại tiếp bước ông cha.... Giặc đến nhà thì cầm súng đuổi giặc, hết chiến tranh lại tranh thủ đi học. Nhiều người đỗ cử nhân trong và sau thời kỳ chiến tranh; nhiều người trưởng thành, làm chuyên viên, giám đốc, hoặc giữ quân hàm đại tá trong LLVT như Mai Tuấn Uyên, Mai Danh Canh, Mai Kim Hùng, Mai Xuân Hằng, Mai Xuân Chức, Mai Tuấn Trung, Mai Kim Hưng, Mai Danh Điểm..v...v... Thế hệ tiếp nối có tiến sĩ Mai Hữu Đạt, thạc sĩ Mai Bá Bắc, thượng tá Mai Tiến Dũng và hàng chục cử nhân khác - không thể kể hết tên các vị - đang ngày đêm trên khắp mọi miền Tổ Quốc, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam thân yêu.
              Các cháu người họ Mai ngày nay lại đang dùi mài “kinh sử” trong các nhà trường, đặng viết tiếp trang sử học hành của dòng họ.

              Họ Mai có gốc ở thôn Cao Lãm ra đi từ các đời trước, dến nay nhiều chi định cư ở các nơi trở thành họ Mai ở địa phương đó có đến gần con số 10, với số hộ bảy tám trăm, số đinh trên hai ngàn; người đỗ cử nhân cũng đến hàng trăm, đã và đang có những đóng góp quan trọng trong việc học hành, xây dựng, phát triển tại địa phương.
               
                             Xin cảm ơn Người – Tiền nhân thuở trước
                             Cây đời nay con tiếp bước vun trồng
                             Dòng sữa Mẹ ươm mầm xanh mới
                             Nguyện chung lòng, chẳng thẹn với cha ông.


                                                                             MAI XUÂN CHỨC
                                                                                       3 - 2012
                
               


Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

NƯỚC BẠC - ĐỒNG XANH


                             NƯỚC BẠC – ĐỒNG XANH


                       Thuở ấy - thế kỷ XIII, thời Lê Trung hưng - người ta tôn vinh  làng tôi là làng Khoa bảng – đất văn hiến; bởi lẽ với một làng nhỏ bé chỉ trên dưới trăm hộ dân, nghề chính là cấy lúa và chăn tằm dệt lụa mà đã có đến 99 vị đỗ đạt cao từ “Sinh đồ” đến “Nhị tràng, tam tràng” rồi “Đình nguyên - Hoàng giáp - Tiến sĩ”, lại có “Tam tiến sĩ đồng triều”, nhiều người làm quan từ Tri huyện, Tri phủ, đốc học đến Hàn lâm viện sĩ, Thượng thư của triều đình; quả là một kỳ tích quý hiếm mà không phải làng nào cũng có được. Tương truyền: có được vinh quang như vậy là nhờ có con kênh – người đời gọi là con Cừ với dòng nước bạc -  chảy dọc theo con đường làng phù hợp với quy luật phong thủy.
                       Bản đồ của làng như một con Chim Phượng giang cánh bay, phần đầu của Chim là dải ruộng và ao nằm ở phía tây mà bây giờ người ta vẫn gọi là “Mỏ Phượng”. Thân chính của Chim là lô đầm ao rộng tới 60 mẫu và khu dân cư giữa làng. Giữa lô đầm ao là một hồ lớn, đón nước từ mấy làng xã phía tây đổ về rồi theo một con kênh (ngòi) đổ vào Ao Lão trước cửa ngôi đình. Nước các xóm giữa làng theo một con kênh (ngòi) khác được dẫn theo một cống ngầm nằm phía dưới sân, đi qua trước cửa đình, chảy hướng Bắc – Nam. Hai dòng nước theo quy luật “Thủy đáo điện tiền” gặp nhau ở đầu dòng con kênh (cừ) xuôi theo đường làng hội tụ ở “Cừ trâu đằm” để tưới cho các cánh đồng phì nhiêu xanh tốt phía đông.
                      Thế hệ chúng tôi, lúc nhỏ đến tuổi thanh niên, vẫn còn được tắm giặt thỏa thích ở Ao Lão, hay dòng kênh bên cạnh đường làng. Có lẽ nhờ dòng nước trong lững lờ, liên tục chảy xuôi ngày đêm mà người làng tôi không nhỏ thó, nước da  không phải là màu bánh mật, như các vùng làm ruộng thuần túy, mà ai cũng có thân hình vừa phải, nước da sáng sủa, duyên dáng. Con gái ít có trường hợp “tồn đọng”. Đàn ông, nếu lấy vợ thiên hạ, thường là những người con gái có vẻ đẹp ưa nhìn. Đến những năm của thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước, làng tôi nhiều người đi thoát ly, một tháng đôi lần vẫn mong muốn được về quê  tắm giặt trong những ngày nghỉ; Cũng lại có nhiều người thành đạt trên con đường khoa cử, chiến đấu. Anh hùng LLVT, tiến sĩ, thiếu tướng, đại tá, cử nhân, giám đốc....
                     Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, do yêu cầu cấp bách của phát triển kinh tế; khu đầm ao và con kênh (cừ) đã dược giao khoán cho các hộ xã viên chăn nuôi cá vịt. Dòng nước xưa kia bị chặn lại. Giờ là một màu nước xam xám, sóng sánh và bốc lên mùi tanh tanh khó ngửi. Ít người còn dám rửa chân tay, hoặc lấy tưới cây ở dòng nước này.
                     Ứơc ao “Bao giờ cho đến ngày xưa?” thật khó trả lời. Cũng may, trong việc xây dựng dự án “nông thôn mới”, người ta đã đưa nội dung  cải tạo dòng nước của làng gần giống với “thủy đáo điện tiền” thuở trước với kinh phí hàng tỷ đồng. Người dân nơi đây mong sao dự án được triển khai sớm.

                                                                                           MAI XUÂN CHỨC
                      
                     

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

Giếng nước làng tôi


GIẾNG NƯỚC LÀNG TÔI


                     Không ai biết tường tận  giếng nước ấy đã có tự bao giờ; Chỉ biết rằng nghe các cụ cao tuổi trong làng nhiều thế hệ kể lại thì các cụ sinh ra và lớn lên, đã thấy cái giếng ấy rồi. Cứ thế, đời này kế tiếp đời khác cho đến tận bây giờ. Không chỉ là địa điểm cung cấp nước ăn cho cả làng, mà còn có nhiều kỷ niệm với bao người; là niềm tự hào của nhiều thế hệ.
                     Nằm giữa khu trung tâm văn hoá của làng, ngay bên cạnh ngôi đình, Nhà văn hóa – Khu thể thao, giếng nước như một chiếc gương lớn với diện tích mặt lên đến trên 800m2, đáy lòng chảo. Rốn giếng sâu, nước gần ngập một cây tre. Xung quanh được xây bao theo hình tròn từ mép đáy lên, đến nay nhiều chỗ sự liên kết giữa các hàng gạch vẫn còn tốt. Gần đây, nhân dân trong làng và chi hội NCT đã góp tiền xây thêm lan can phần vượt trên bờ và trồng con tiện. Xung quanh bờ được đổ bê tông. Tại vị trí đẹp nhất gần đường đi, trong dịp kỷ niệm 1000 Thăng Long – Hà Nội, những người con của làng sống xa quê còn ủng hộ xây một bể cảnh với núi non bộ lớn, chiều cao tới trên 3 mét!.
                      Nhờ có mạch nước ngầm nên nước giếng rất trong, trên mặt còn thả “bèo ong”. Dưới giếng có rất nhiều cá, nhưng rất ít khi đánh bắt. Thời bao cấp, có lần người ta bắt được con cá mè “ta” nặng tới trên một yến.
                      Tuổi chúng tôi lớn lên, trưởng thành đều ăn uống nước giếng làng. Nhiều phó tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên, anh hùng thời ấy đều nhờ ăn nước giếng nơi đây mà thành đạt!. Những cô thôn nữ với mái tóc dài óng mượt, gọn ghẽ, căng tròn trong bộ quần áo bà ba, chiều chiều ra giếng gánh nước, soi khuôn hình của mình xuống mặt nước thật là gợi cảm, nên thơ. Đôi nồi đất nung ngồi gọn ghẽ trong chiếc quang làm bằng dây song hay cật tre, rồi đến đôi thùng tôn được treo trên móc xích vào hai đầu đòn gánh “bằng” nhún nhẩy trên đường làng... như một bức tranh thuỷ mặc sống động độc đáo hiếm có... Rồi những buổi gánh nước tập đoàn: năm bảy cô rồng rắn nối nhau lần lượt gánh nước đổ đầy bể thành viên này đến thành viên khác. Hình ảnh giếng nước làng tôi đã có mặt trong những thước phim tài liệu do mấy hãng nước ngoài về quay cùng với những phụ nữ “ba đảm đang” thời chống Mỹ.
                      Lại nhớ, tháng 2 năm 1950, bom Pháp ném xuống làng đã làm sạt lở một góc bờ giếng. Ngay mấy ngày sau làng đã xây lại. Người ta truyền nhau rằng giếng làng rất “thiêng”. Thập kỷ 50 của thế kỷ trước, làng có một ông tên là Hành, vợ mấy lần sinh toàn được con gái? Cũng vừa nhân lúc làng cần thay nước ở giếng. Nhưng do giếng sâu, lại có mạch nước ngầm, nên chưa có phương án thực hiện. Được hội đồng bô lão của làng đồng ý, ông Hanh đã đặt mấy “cấp gầu sòng” từ trên bờ xuống tới đáy, với hàng chục chiếc gầu tát suốt ngày đêm, nước đã cạn, giếng trở lại sạch sẽ. Không biết có phải vì việc thiện và tâm linh ấy không mà sau đó vợ ông Hành sinh hai người con trai liền!
                      Theo cụ Pha năm nay 91 tuổi kể lại: Vợ chồng cụ “nên duyên có phận” cũng khởi đầu từ chuyện gánh nước giếng. Hồi ấy là năm 1948, cô thôn nữ - bây giờ là cụ bà -  đi gánh nước, do kỹ thuật túm cổ quang và hướng đứng múc nước chưa thành thạo, một bên nồi đất nung rời khỏi “trôn” quang nổi trên mặt nước, trôi đi. Chiếc nồi bên kia đầu đòn gánh từ từ chìm xuống. Mất thăng bằng, cô gái té nhào sau khi hét lên một tiếng. Cũng may có chàng thanh niên lúc đó mới 18 tuổi – bây giờ là cụ ông -  đi qua vội vàng lao xuống... Người thanh niên sau đó đi bộ đội, lại được tham gia chiến dịch Điện Biên, rồi trở lại quê nhà... Cô gái vẫn chờ... Bây giờ hai cụ vẫn khỏe, con cháu của hai cụ người ở quê, người công tác thoát ly trên thành phố, đều thành đạt trong học tập và cuộc sống....

                      Nhiều năm nay, tuy không còn ai ăn nước ở giếng làng nữa nhờ có 98% số gia đình trong làng có giếng khoan đã qua lọc để dùng trong sinh hoạt và 100% số hộ có bể hứng nước mưa - có bể chứa được trên chục khối - dùng cho việc ăn uống. Tuy vậy, người dân trong làng vẫn cùng nhau giữ gìn giếng làng như một vật báu thiêng liêng, một biểu tượng văn hoá tâm linh không thể mất.


                                                                           5 - 2011
                                                                   MAI XUÂN CHỨC